(www.binhthuan.vn - 09/06/2008 - 9:11:04 AM)
![]() |
| Suối Tiên, phường Hàm Tiến. (ảnh: Ngọc Lân) |
Trên bản đồ, Bình Thuận nằm phần cuối của dãy Trường Sơn. Với sự án ngữ của dãy Trường sơn ở phía Bắc, sự che chắn của các đồi cát ven biển và sự phân cách của các dãy núi đâm ngang ra biển khiến hơi ẩm xâm nhập vào vùng đất thuộc tỉnh ít nên lượng mưa thuộc loại nhỏ nhất nước. Mấy năm gần đây, tại tỉnh nhiều ngành kinh tế có nhu cầu sử dụng nước rất lớn xuất hiện như các khu công nghiệp, khu nuôi trồng thủy sản, khu du lịch… Rồi nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt trong nhân dân cũng ngày một tăng, việc sử dụng đất, phá rừng và các phương pháp canh tác truyền thống đã làm mực nước ngầm ở một số vùng hạ thấp hơn, làm khô hạn và thiếu nước tại các hồ chứa. Hậu quả là nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển thiếu nước sinh hoạt, ranh giới nhiễm mặn lan rộng. Báo động nhất là vùng đất khu Lê Hồng Phong, vốn có lượng mưa thấp nhất tỉnh và cũng có tỷ lệ thấm nước mưa ít nhất.
Điểm nghiên cứu thứ hai của đề tài là Giếng Triền (xã Hồng Phong) có mực nước ngầm cũng rất nông.Vùng đất này có bề mặt là lớp cát bột màu trắng hồng, đỏ gụ, độ cao tuyệt đối từ 50-60m trở lên không chứa nước. Phía dưới là một tầng sét pha có hệ số thấm rất nhỏ so với lớp cát bên trên. Vì vậy, hằng năm lượng mưa rớt xuống lưu vực này trung bình là 84,4.106m3 nhưng chỉ có 13mm nước mưa ngấm xuống đất. Có nước chảy lộ ra tại thung lũng Giếng Triền được dự đoán là dòng ngầm chảy từ dãy núi Bàu Thêu và khu vực Bàu Tàn. Tại đây, những người thực hiện đề tài đề xuất 4 phương án nhưng phương án đạt hiệu quả kinh tế, đảm bảo kỹ thuật hợp lý, dễ thực hiện, dễ quản lý vẫn là bổ cập nước mưa trên toàn lưu vực Triền. Theo phương án này, ở lưu vực Triền sẽ xây dựng hệ thống liên hồ gồm 33 hồ trữ nước, dung tích 4.500 m3/hồ và trồng 157km cỏ Vetiver với tổng kinh phí 66,81 tỷ đồng. Ở phương án khác đề xuất trồng xoan thay cho trồng cỏ Vetiver nhưng xét lại thấy cỏ Vetiver là loại cây trồng mới có nhiều ưu điểm, có thể sinh trưởng trên mọi loại đất và có bộ rễ mọc thẳng xuống mặt đất ít nhất 3m, làm thành “ tường chắn ngầm sinh học”. Nhờ vậy chúng làm giảm lượng nước mặt chảy đi và tăng nguồn nước ngầm của khu vực dự án.
Theo những người thực hiện đề tài, phương án trên có thể phân chia thực hiện thành 3 giai đoạn theo từng năm kế hoạch xây dựng cơ bản của tỉnh. Cụ thể, giai đoạn 1(4 năm) sẽ trồng 46km cỏ Vetiver, xây dựng 11 hồ trữ nước(với 8,49km thu nước, 22 giếng, 26 bể lắng cát…)với kinh phí 20,22 tỷ đồng; giai đoạn 2(3 năm)trồng 66km cỏ Vetiver, xây dựng 14 hồ trữ nước(với 12,24km kênh thu nước, 28 giếng, 38 bể lắng cát…)với kinh phí 28,27 tỷ đồng và giai đoạn 3(2 năm) trồng 45km cỏ Vetiver, xây dựng 8 hồ trữ nước(với 8,19km kênh thu nước, 16 giếng, 21 bể lắng cát…với kinh phí 18,33 tỷ đồng. Sau 9 năm, mực nước ngầm ở vùng này sẽ dâng cao thêm từ 3,5-8m tương ứng với phương án bổ cập nước mưa là 30% hoặc 50%. Hội đồng Khoa học Công nghệ tỉnh đánh giá, đề tài trên đã dùng mô hình toán số 3D của dòng chảy thấm và giải bằng cách tự xây dựng chương trình máy tính để tính toán là hướng nghiên cứu tương đối tin cậy hiện nay nên việc xác định phương án khả thi “bổ cập nước mưa trên toàn lưu vực” sẽ mang lại hiệu quả trong thực tế.
Các giải pháp kỹ thuật bổ cập nước ngầm này sẽ giúp các cơ quan quản lý chuyên ngành có cơ sở khoa học, triển khai công tác quy hoạch và chuẩn bị đầu tư thực hiện dự án để phát triển kinh tế xã hội vùng khô hạn; nhất là khôi phục lại hệ sinh thái, tạo cảnh quan thiên nhiên, phát triển du lịch.
Đề tài “Nghiên cứu biện pháp công trình giữ và nâng cao mực nước ngầm vùng cát khu Lê Hồng Phong tỉnh Bình Thuận” do Chi cục Thủy lợi Bình Thuận thực hiện(có phối hợp với Trường Đại học Bách khoa TP.HCM) từ năm 2005 đến nay, mới được nghiệm thu đạt loại khá đã mở ra một hướng mới trong việc giữ nước ở vùng đất cát. Kết quả khảo sát địa chất, thủy văn tại Suối Tiên cho thấy, suối này bắt nguồn từ vùng núi huyện Hàm Thuận Bắc và chảy thẳng ra biển gần Mũi Né(TP.Phan Thiết). Nguồn nước cung cấp cho suối này là lượng nước mưa chảy trực tiếp trên mặt và nước ngầm trong lưu vực. Bên dưới lớp cát mặt là cát kết vôi ít nứt nẻ, có hệ số thấm rất nhỏ. Trung bình mỗi năm lượng mưa rớt xuống lưu vực này là 20,8.106m3 nhưng chỉ có 31,5mm nước mưa ngấm vào đất. Hiện mực nước ngầm khu vực thung lũng Suối Tiên nông, rất gần mặt đất; chỉ có khu vực đồi cát phía bờ phải Suối Tiên là có mực nước ngầm sâu. Để gia tăng mực nước ngầm khu vực này, biện pháp bổ cập nước ngầm bằng nước mưa theo 3 mức độ 30%, 50% và 80% lượng mưa là hiệu quả nhất. Điều này có nghĩa khi các công trình thu nước được thiết lập rộng khắp ở thượng lưu Suối Tiên thì ở khu vực sát lòng Suối Tiên về phía hạ lưu sẽ tăng mực nước ngầm từ 2-6m(sau 3 năm) và 3-7,5m (sau 10 năm) tương ứng với các mức độ bổ cập.
Điểm nghiên cứu thứ hai của đề tài là Giếng Triền (xã Hồng Phong) có mực nước ngầm cũng rất nông.Vùng đất này có bề mặt là lớp cát bột màu trắng hồng, đỏ gụ, độ cao tuyệt đối từ 50-60m trở lên không chứa nước. Phía dưới là một tầng sét pha có hệ số thấm rất nhỏ so với lớp cát bên trên. Vì vậy, hằng năm lượng mưa rớt xuống lưu vực này trung bình là 84,4.106m3 nhưng chỉ có 13mm nước mưa ngấm xuống đất. Có nước chảy lộ ra tại thung lũng Giếng Triền được dự đoán là dòng ngầm chảy từ dãy núi Bàu Thêu và khu vực Bàu Tàn. Tại đây, những người thực hiện đề tài đề xuất 4 phương án nhưng phương án đạt hiệu quả kinh tế, đảm bảo kỹ thuật hợp lý, dễ thực hiện, dễ quản lý vẫn là bổ cập nước mưa trên toàn lưu vực Triền. Theo phương án này, ở lưu vực Triền sẽ xây dựng hệ thống liên hồ gồm 33 hồ trữ nước, dung tích 4.500 m3/hồ và trồng 157km cỏ Vetiver với tổng kinh phí 66,81 tỷ đồng. Ở phương án khác đề xuất trồng xoan thay cho trồng cỏ Vetiver nhưng xét lại thấy cỏ Vetiver là loại cây trồng mới có nhiều ưu điểm, có thể sinh trưởng trên mọi loại đất và có bộ rễ mọc thẳng xuống mặt đất ít nhất 3m, làm thành “ tường chắn ngầm sinh học”. Nhờ vậy chúng làm giảm lượng nước mặt chảy đi và tăng nguồn nước ngầm của khu vực dự án.
Theo những người thực hiện đề tài, phương án trên có thể phân chia thực hiện thành 3 giai đoạn theo từng năm kế hoạch xây dựng cơ bản của tỉnh. Cụ thể, giai đoạn 1(4 năm) sẽ trồng 46km cỏ Vetiver, xây dựng 11 hồ trữ nước(với 8,49km thu nước, 22 giếng, 26 bể lắng cát…)với kinh phí 20,22 tỷ đồng; giai đoạn 2(3 năm)trồng 66km cỏ Vetiver, xây dựng 14 hồ trữ nước(với 12,24km kênh thu nước, 28 giếng, 38 bể lắng cát…)với kinh phí 28,27 tỷ đồng và giai đoạn 3(2 năm) trồng 45km cỏ Vetiver, xây dựng 8 hồ trữ nước(với 8,19km kênh thu nước, 16 giếng, 21 bể lắng cát…với kinh phí 18,33 tỷ đồng. Sau 9 năm, mực nước ngầm ở vùng này sẽ dâng cao thêm từ 3,5-8m tương ứng với phương án bổ cập nước mưa là 30% hoặc 50%. Hội đồng Khoa học Công nghệ tỉnh đánh giá, đề tài trên đã dùng mô hình toán số 3D của dòng chảy thấm và giải bằng cách tự xây dựng chương trình máy tính để tính toán là hướng nghiên cứu tương đối tin cậy hiện nay nên việc xác định phương án khả thi “bổ cập nước mưa trên toàn lưu vực” sẽ mang lại hiệu quả trong thực tế.
Các giải pháp kỹ thuật bổ cập nước ngầm này sẽ giúp các cơ quan quản lý chuyên ngành có cơ sở khoa học, triển khai công tác quy hoạch và chuẩn bị đầu tư thực hiện dự án để phát triển kinh tế xã hội vùng khô hạn; nhất là khôi phục lại hệ sinh thái, tạo cảnh quan thiên nhiên, phát triển du lịch.

Nhận xét