Bức tranh toàn cảnh thị trường địa ốc cả nước năm 2008 là rất ảm đạm. Giá nhà – đất sụt giảm nhiều, khiến nhà đầu tư như ngồi trên đống lửa. Nhưng không hẳn loại đất nào, khu vực nào cũng xuống giá…
Để có cơ sở xây dựng bảng giá đất năm 2009 tại Bình Thuận, Sở Tài chính đã thuê Công ty Cổ phần thông tin và thẩm định giá miền Nam, thực hiện điều tra, khảo sát giá đất thị trường tại 9 huyện, thị xã, thành phố (từ tháng 8 – 10/2008).
Kết quả khảo sát cho thấy: Năm 2008 giá đất thị trường tại Bình Thuận không biến động nhiều, ngoại trừ giá đất tại các khu vực thuận lợi cho kinh doanh – dịch vụ, khu qui hoạch du lịch, khu nhà nước đầu tư thêm cơ sở hạ tầng, giá đất có tăng, nhưng mức độ không lớn.
Tuy vậy, do từ năm 2005 đến nay, bảng giá đất của tỉnh chưa được tổng điều chỉnh. Nên giá đất UBND tỉnh qui định tại Quyết định 05/2008/QĐ-UBND, ở một số khu vực còn thấp so thực tế. Có nơi giá qui định chỉ bằng 25% - 30% giá thị trường.
Ví dụ: ở phần lớn các khu qui hoạch du lịch đã phát triển, giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường cao hơn từ 3 – 4 lần so giá tỉnh qui định. Nếu so sánh giá tỉnh qui định với giá thị trường, thì khu vực Hàm Tiến (Phan Thiết) mới bằng 33%, khu vực Mũi Né (Phan Thiết) bằng 27% - 28%, khu vực Tiến Thành (Phan Thiết) bằng 54%.
Quy luật “nước chảy chỗ trũng”. Chính vì giá đất qui định tại các khu du lịch có vị trí thuận lợi trên thấp hơn nhiều so giá thị trường nên đã làm giảm sức hút các nhà đầu tư, vào các khu du lịch còn lại ở Hàm Tân, La Gi…
Đất ở đô thị: ở các đô thị lớn như Phan Thiết, La Gi, giá qui định còn thấp hơn nhiều so giá thị trường. Tỷ lệ % giữa giá tỉnh qui định so với thị trường ở Phan Thiết phổ biến là từ 30% - 60%, ở thị xã La Gi phổ biến từ 25% - 50%.
Còn đất nông nghiệp: (đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm), khảo sát cho thấy phần lớn giá tỉnh qui định vẫn phù hợp với thực tế giá thị trường.
Đất lâm nghiệp: (đất rừng sản xuất), đất ruộng muối, cũng tương tự như vậy.
Đất ở tại nông thôn: khảo sát tại các xã cho thấy giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, chỉ cao hơn (hoặc thấp hơn) giá tỉnh quy định dưới 20%.
Để có cơ sở xây dựng bảng giá đất năm 2009 tại Bình Thuận, Sở Tài chính đã thuê Công ty Cổ phần thông tin và thẩm định giá miền Nam, thực hiện điều tra, khảo sát giá đất thị trường tại 9 huyện, thị xã, thành phố (từ tháng 8 – 10/2008).
Kết quả khảo sát cho thấy: Năm 2008 giá đất thị trường tại Bình Thuận không biến động nhiều, ngoại trừ giá đất tại các khu vực thuận lợi cho kinh doanh – dịch vụ, khu qui hoạch du lịch, khu nhà nước đầu tư thêm cơ sở hạ tầng, giá đất có tăng, nhưng mức độ không lớn.
Tuy vậy, do từ năm 2005 đến nay, bảng giá đất của tỉnh chưa được tổng điều chỉnh. Nên giá đất UBND tỉnh qui định tại Quyết định 05/2008/QĐ-UBND, ở một số khu vực còn thấp so thực tế. Có nơi giá qui định chỉ bằng 25% - 30% giá thị trường.
Ví dụ: ở phần lớn các khu qui hoạch du lịch đã phát triển, giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường cao hơn từ 3 – 4 lần so giá tỉnh qui định. Nếu so sánh giá tỉnh qui định với giá thị trường, thì khu vực Hàm Tiến (Phan Thiết) mới bằng 33%, khu vực Mũi Né (Phan Thiết) bằng 27% - 28%, khu vực Tiến Thành (Phan Thiết) bằng 54%.
Quy luật “nước chảy chỗ trũng”. Chính vì giá đất qui định tại các khu du lịch có vị trí thuận lợi trên thấp hơn nhiều so giá thị trường nên đã làm giảm sức hút các nhà đầu tư, vào các khu du lịch còn lại ở Hàm Tân, La Gi…
Đất ở đô thị: ở các đô thị lớn như Phan Thiết, La Gi, giá qui định còn thấp hơn nhiều so giá thị trường. Tỷ lệ % giữa giá tỉnh qui định so với thị trường ở Phan Thiết phổ biến là từ 30% - 60%, ở thị xã La Gi phổ biến từ 25% - 50%.
Còn đất nông nghiệp: (đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm), khảo sát cho thấy phần lớn giá tỉnh qui định vẫn phù hợp với thực tế giá thị trường.
Đất lâm nghiệp: (đất rừng sản xuất), đất ruộng muối, cũng tương tự như vậy.
Đất ở tại nông thôn: khảo sát tại các xã cho thấy giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, chỉ cao hơn (hoặc thấp hơn) giá tỉnh quy định dưới 20%.
KHÔI NGUYÊN |
Nhận xét